Tăng trưởng GDP năm 2016 có thể đạt 6,82% và tăng trưởng xuất khẩu sẽ đạt khoảng 10,4% là những dự báo lạc quan vừa được Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đưa ra chiều 28.1 về triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm 2016.
Năm 2015, tăng trưởng kinh tế phục hồi rõ nét khi tăng dần qua các quý và cao hơn so với cùng kỳ 2014, mặc dù vẫn còn thấp hơn giai đoạn 1990 - 2010. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chưa làm tăng áp lực lạm phát khi kinh tế chưa thực sự thoát khỏi sự suy giảm và động lực tăng trưởng chưa đủ. Xuất khẩu tăng 7,9% trong năm 2015, thấp hơn mục tiêu 10% và các năm 2011 - 2014. Theo ông Nguyễn Anh Dương - Phó Trưởng ban Chính sách kinh tế vĩ mô, mức tăng trưởng xuất khẩu tính theo USD nên cần lưu ý là việc USD lên giá mạnh trong các năm 2014 - 2015, chưa kể xuất khẩu của Việt Nam hiện đang phụ thuộc quá nhiều vào dầu thô nên rất đáng lo ngại.
Cùng có nhận định trên, TS Nguyễn Đình Cung - Viện trưởng Viện CIEM - cho rằng tuy nhìn bề ngoài, các chỉ số kinh tế đều tốt lên nhưng nhìn sâu vào các chỉ tiêu lại chưa rõ ràng. “Nhìn xâu chuỗi các chỉ tiêu như thu chi ngân sách, cách quản lý ngân sách, nợ công, bội chi ngân sách và cách thức bù đắp nợ, tỉ giá và năng lực cạnh tranh lại thấy đang rất lúng túng về khả năng điều hành kết hợp với nhau”. Tăng trưởng tín dụng mặc dù đạt trên 18% song vấn đề đặt ra là vẫn chưa giảm được lãi suất cho vay và phải dành một phần thanh khoản cho trái phiếu chính phủ. Trong khi đó, tình hình tài khóa căng thẳng hơn trong năm 2015, dẫn tới loay hoay tìm nguồn chi ngân sách và đầu tư phát triển.
Tăng trưởng GDP năm 2016 có thể đạt 6,82%
Tuy nhiên, theo đánh giá của CIEM, tăng trưởng xuất khẩu năm 2016 sẽ đạt khoảng 10,4%, lạm phát trong năm 2016 sẽ ở mức 4,37% và cán cân thương mại sẽ - 4,1 tỉ USD. Lý giải cho những dự báo này của CIEM, ông Nguyễn Anh Dương nhận định năm 2016 sẽ là năm gia tăng đầu tư tư nhân và FDI do triển vọng và môi trường đang ngày càng thông thoáng hơn. Ngoài ra, đầu tư công có thể tăng nhanh do năm nay là năm đầu của khung đầu tư trung hạn giai đoạn 2016 - 2020. Ngoài ra, cơ hội cũng mở ra cho Việt Nam khi hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với hàng loạt hiệp định đã ký kết và thực hiện như FTA với Liên minh kinh tế Á - Âu, Hàn Quốc, AEC…; các hiệp định sắp thực hiện như FTA với EU và TPP; các hiệp định đang đàm phán như RCEP; FTA với Israel; ASEAN - Hồng Kông. Ông Dương đánh giá: “Cơ hội ngày càng lớn hơn do tương tác giữa hội nhập kinh tế quốc tế với cải cách trong nước và đầu tư”.
Tuy nhiên, các chuyên gia của CIEM cũng cho rằng, tồn tại một số rủi ro trong năm 2016 do kinh tế thế giới còn bất định với đà phục hồi chậm. Xu hướng rút vốn khỏi các thị trường mới nổi ngày càng rõ nét, riêng vốn rút khỏi Trung Quốc từ tháng 6.2014 - 11.2015 là 1.000 tỉ USD. Bên cạnh đó, giá nhiều hàng hóa trên thị trường thế giới giảm, kể cả với các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam. Ngoài ra, các vấn đề bất ổn còn xuất phát từ môi trường chính sách trong nước. Đơn cử như rủi ro lạm phát bắt nguồn từ thâm hụt ngân sách nhà nước kéo dài, tăng giá các mặt hàng, dịch vụ nhà nước kiểm soát giá, tăng lương, chi phí cho doanh nghiệp.
Theo đó, các chuyên gia kiến nghị, cần giảm tính chi phối của chính sách tài khóa, hướng dần đến giảm thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) còn 4% GDP, ngay cả trước Luật NSNN (sửa đổi) có hiệu lực, bảo đảm kỷ luật chi và kỷ luật phát hành trái phiếu chính phủ. Đặc biệt, cần coi ổn định lạm phát là ưu tiên cao nhất của chính sách tiền tệ. Mặt khác, cần chuẩn bị cho việc thực hiện các hiệp định FTA đã và sắp ký kết, trong đó cải cách trong nước là điều kiện tiên quyết. Ngoài ra, cần nâng cao môi trường kinh doanh; tiến tới xây dựng văn hóa về cạnh tranh bình đẳng; giảm chèn lấn khu vực công với khu vực tư nhân dựa trên xây dựng nền tảng pháp lý và thực thi về quyền tự do kinh doanh.
